máy cắt plasma, máy đo độ ẩm, máy đo cường độ ánh sáng, máy đo tốc độ gió, máy đo âm thanh, máy đo nhiệt độ
 
     
   
    TRANG CHỦ       Đào tạo       Nghiên cứu    
 
CHUYÊN MỤC  

GIỚI THIỆU
TIN TỨC
THÔNG BÁO
ĐÀO TẠO
NGHIÊN CỨU
QUAN HỆ - HỢP TÁC
HỖ TRỢ SINH VIÊN


Tìm kiếm  

Tìm kiếm mở rộng


GIỚI THIỆU /
Lịch sử phát triển
03/10/2008 17:50:16


Vài nét về lịch sử Giáo dục Toán học bậc đại học ở Việt nam và sự thành lập Khoa Toán trường ĐHSP Hà Nội

GS. Ngô Thúc Lanh

Dưới thời phong kiến, ở nước ta Toán học không được dạy trong nhà trường.

Dưới thời thực dân, trong các trường Pháp Việt, trình độ Toán học không vượt quá trình độ phổ thông. Ngay cả ở những trường cao đẳng, kĩ thuật như giao thông vận tải, trình độ toán học cũng không vượt quá chương trình giải tích lớp 12 hiện nay.

Mãi đến năm 1941, sau khi chiến tranh thế giới lấn thứ hai bùng nổ, đường sang Pháp bị tắc nghẽn, thực dân Pháp mới mở trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương ở Hà Nội, chủ yếu để cho con Tây có chỗ học sau bậc Tú tài. Trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương đào tạo bậc cử nhân cho các ngành Lí, Hoá, Sinh, Trình độ toán học chỉ đến Toán học đại cương, nhằm cung cấp các kiến thức toán học cần thiết cho việc học Lí, Hoá, Sinh.

Sau Cách mạng tháng 8-1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định thành lập trường Đại học Khoa học và cử giáo sư Nguyễn Thúc Hoà làm quyền giám đốc kiêm Tổng thư kí. Về Toán học, ngoài lớp Toán học đại cương do GS Nguyễn Thúc Hào giảng dạy, còn có các lớp Cơ học thuần lý do GS Hoàng Xuân Hãn giảng dạy và Cơ học thống kê do GS Tạ Quang Bửu giảng dạy. Trường chỉ hoạt động được vài tháng thì cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Trường phải đình giảng.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, GS Nguyễn Thúc Hào tản cư về quê nhà ở Nghệ An và được Bộ Giáo dục giao cho nhiệm vụ mở các lớp Toán học đại cương ở đây. Các lớp này tiếp tục đến năm 1951 thì sát nhập vào trường Dự bị đại học và trường Sư phạm cao cấp, hoạt động ở vùng tự do Khu VI cho tới ngày hoà bình lập lại năm 1954.


Ở Việt Bắc vào các năm 1948, 1949, GS Nguyễn Xiển cũng mở một lớp Toán học đại cương cho khoảng 15 học viên. Lúc đầu học viên tự học lý thuyết và gửi bài làm về để thầy chấm. Sau đó lớp được tập trung tại xã Đại Điền, huyện Tam Nông, Vĩnh Yên, dưới chân núi Tam Đảo. Năm 1949, khi giặc Pháp tiến công lên Vĩnh Yên, học viên phải lánh vào hang đám, rồi rút về nhà. Lớp học bị đình giảng.

Cuối năm 1949, GS Lê Văn Thiêm từ Paris bay về Bankok, rồi xuyên qua rừng Campuchia, về bưng biền Nam Bộ, tham gia kháng chiến ở Nam Bộ. Giữa năm 1950 ông lặn lội đi bộ theo giao liên vượt Trường Sơn ra chiến khu Việt Bắc. Đầu năm 1951, chính phủ kháng chiến quyết định thành lập hai trường Khoa học cơ bản và Sư phạm cao cấp và cử GS Lê Văn Thiêm làm hiệu trưởng cả hai trường. Hai giáo sư Lê Văn Thiêm và Nguyễn Xiển đạp xe vào tận Khu IV để tuyển sinh. Hai trường được chính thức thành lập cuối năm 1951 ở Chiêm Hoá, Tuyên Quang, và sau đó được chuyển sang Khu học xá trung ương, đặt ở một xã gần thủ phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.             

Về Toán, sinh viên hai trường học chung dưới sự giảng dạy của các giáo sư Lê Văn Thiêm và Nguyễn Xiển (giảng lý thuyết) và đ/c Nguyễn Cảnh Toàn (chữa bài tập).

Trường Khoa học cơ bản chỉ hoạt động trong hai năm (1952 và 1953). Trường Sư phạm cao cấp thì tiếp tục tuyển sinh khoá II và dọn sang cơ sở mới của Khu học xá vừa xây dựng xong. Khoá II bắt đầu học từ năm 1954. Phụ trách dạy về Toán có GS Lê Văn Thiêm và các cán bộ giảng dạy Nguyễn Cảnh Toàn và Ngô Thúc Lanh, về Vật lý có GS Nguỵ Như Kontum và đ/c Dương Trọng Bái.
 
Sau ngày giải phóng thủ đô (10/10/1954) trường Sư phạm cao cấp được chuyển về Hà Nội, tiếp quản cơ sở của trường Cao đẳng Khoa học ở vùng tạm chiến.
 
Cuối năm 1954 chính phủ ra quyết định thành lập trường Đại học Sư phạm Văn khoa, do GS Đặng Thai Mai làm hiệu trưởng và trường Đại học Sư phạm Khoa học do GS Lê Văn Thiêm làm hiệu trưởng, trên cơ sở sát nhập các trường Sư phạm cao cấp ở Trung Quốc về, Sư phạm Cao cấp và Dự bị đại học ở Khu IV ra và trường Cao đẳng khoa học ở vùng tạm chiến. Cùng với trường Đại học Y Dược và trường Đại học Nông nghiệp, đó là những trường đại học đầu tiên ở nước ta sau ngày hoà bình lập lại.

Phụ trách giảng Toán có các GS Lê Văn Thiêm, Nguyễn Thúc Hào và các cán bộ giảng dạy Nguyễn Cảnh Toàn, Khúc Ngọc Khảm, Ngô Thúc Lanh. Về Vật lý có các GS Nguỵ Như Kontum, Vũ Như Canh và các cán bộ giảng dạy Dương Trọng Bái, Ngô Quốc Quýnh, Hoàng Phương.

Trường ĐHSP Khoa học tồn tại chỉ hai năm 1955-1956 và đào tạo được ba khoá. Khoá I gồm các sinh viên từ Khu học xá trung ương về, từ Khu IV ra và các sinh viên ở lại Hà Nội. Khoá này học hết năm 1955 đến đầu năm 1956 thì tốt nghiệp. Khoá II tuyển sinh đầu năm 1955 và thi tốt nghiệp hè năm 1956. Khoá III tuyển sinh hè năm 1955 và thi tốt nghiệp cuối năm 1956. Như vậy khoá I học hơn hai năm, còn các khoá II và III thì chỉ học có một năm rưỡi. Tuy thời gian học ngắn, nhưng chương trình vẫn là chương trình ba năm tinh giản, mỗi năm học trong 6 tháng và không có nghỉ hè.
 
Sở dĩ phải đào tạo gấp rút như thế là vì nhu cầu về cán bộ giảng dạy Toán, Lý, Hoá, Sinh cho các trường đại học về khoa học và kĩ thuật sắp mở rất lớn. Nguồn duy nhất cung cấp cán bộ giảng dạy cho các trường đó là trường Đại học Sư phạm Khoa học. Vì thế những sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Khoa học loại khá giỏi, đều đã được phân công về làm cán bộ giảng dạy ở các trường đại học. Tiêu chuẩn duy nhất để chọn cán bộ giảng dạy đại học lúc bấy giờ là năng lực của sinh viên tốt nghiệp. Dưới sự lãnh đạo của GS Lê Văn Thiêm, toàn bộ số sinh viên tốt nghiệp loại khá giỏi, từ số 1 trở xuống cho hết danh sách này, đều được phân công về làm cán bộ giảng dạy tại các trường đại học. Những người còn lại thì được phân công về các trường phổ thông, trường bổ túc công nông, trường bổ túc văn hoá của Quân đội …
 
Trong lịch sử phát triển của nền Khoa học tự nhiên ở nước ta, trường ĐHSP Khoa học, tuy chỉ tồn tại có hai năm, nhưng có một vị trí cực kì quan trọng. Ngày nay nhìn lại, có thể thấy rằng tất cả sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi hồi đấy và được bổ nhiệm làm cán bộ giảng dạy ở các trường đại học đều trưởng thành. Nhiều người đã trở thành những nhà khoa học tài năng, những cán bộ khoa học đầu ngành , và những cán bộ lãnh đạo khoa học có uy tín. Riêng về Toán, Lý, các nhà khoa học nổi tiếng như Phan Đình Diệu, Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự, nhiều giáo sư, phó giáo sư, nhà giáo tài danh khác đã xuất thân từ trường Đại học Sư phạm Khoa học. Chỉ trong vòng hai năm tồn tại, trường ĐHSP Khoa học đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước. Thật đáng biểu dương.
 
Đến năm 1956 hai trường ĐHSP Văn khoa và ĐHSP Khoa học nhập lại, rồi tách ra thành hai trường hoàn chỉnh: trường Đại học tổng hợp và trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Hai trường sử dụng chung trụ sở ở 19 Lê Thánh Tông và có chung đội ngũ cán bộ giảng dạy trong hai năm học 1956-1957 và 1957-1958.
 
Đến năm 1958 trường ĐHSP Hà Nội dọn lên trụ sở mới ở Km 8 đường Cầu Giấy- Sơn Tây. Khoa Toán trường ĐHSP Hà Nội được hình thành và phát triển từ đây. Lúc đầu chưa có khoa Toán riêng mà chỉ có khoa Toán Lý, do đ/c Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ nhiệm, kiêm tổ trưởng tổ Toán. Tổ Toán gồm 13 cán bộ giảng dạy: hai người cũ là Nguyễn Cảnh Toàn và Ngô Thúc Lanh và 7 người tốt nghiệp năm 1956 là Lại Đức Thịnh, Đoàn Quỳnh, Trần Văn Hạo, Phan Đình Diệu, Văn Như Cương, Võ Tiếp và Đinh Như Chương (chuyển từ Bách khoa về), 4 người tốt nghiệp năm 1958 là Lê Hạnh, Ngô Xuân Sơn, Kiều Huy Luân, Trần Tráng. Đến năm 1959 thì tổ Toán tách khỏi khoa Toán Lý và trở thành Khoa Toán. Năm này có thêm 17 cán bộ, gồm 7 sinh viên mới tốt nghiệp: Võ Viết Cẩn, Trần Anh Bảo, Phạm Tăng, Vũ Thế Hựu, Nguyễn Công Quỳ, Nguyễn Đăng Phất, Phạm Gia Đức, 5 cán bộ từ Sư phạm trung cấp trung ương chuyển sang là Doãn Châu Long, Nguyễn Bá Thịnh, Lê San, Võ Ứng Đoài, Hoàng Kỳ, 4 cán bộ từ phổ thông lên là Hoàng Chúng, Vũ Tuấn, Lê Đình Phi, Lê Khắc Bảo và cô Hoàng Xuân Sính từ Pháp về. Cuối năm 1959, trường ĐHSP Vinh được thành lập, Khoa Toán đã chia sẻ cho trường 4 cán bộ là Văn Như Cương, Trần Văn Hạo, Võ Tiếp và Hoàng Kỳ.       
 
Từ đó cho đến năm 1965, mỗi năm Khoa lại giữ thêm một số sinh viên tốt nghiệp ở lại trường làm cán bộ giảng dạy. Và khi các trường ĐHSP Việt Bắc và ĐHSP Hà Nội 2 (Xuân Hoà) được thành lập thì Khoa lại cử một số cán bộ giảng dạy về các trường đó.
 
Trong chiến tranh chống Mỹ, Khoa sơ tán về nông thôn, nhưng vẫn không ngừng phát triển, vì phải đào tạo những giáo viên trung học cho miền Nam sau này. Đặc biệt sau tết Mậu Thân 1968, Khoa đã giữ lại mấy chục sinh viên tốt nghiệp, nam có, nữ có, để làm cán bộ giảng dạy. Các đ/c nữ hồi đó mới 20 tuổi, hôm phái đoàn Nhật về nơi sơ tán thăm Khoa, các chị gọn gàng trong bộ quần áo nữ dân quân du kích đã biểu diễn võ thuật cho họ xem, nay các chị cũng đã đến tuổi về hưu sau 35 năm công tác ở Khoa.     

Từ giữa thập kỉ 70 đến thập kỉ 90 do điều kiện kinh tế khó khăn, biên chế eo hẹp, hầu như Khoa không tuyển thêm cán bộ mới. Lớp kế cận không đào tạo kịp. Điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển của Khoa.

Từ tháng 1/1967, Khoa Toán tổ chức lớp học sinh phổ thông chuyên toán. Khối phổ thông chuyên toán từ 1968 - 1969 trở thành đơn vị trực thuộc Khoa. Năm 1975, phòng máy tính được thành lập, sau đổi thành Tổ toán học tính toán. Đến năm 1985, Tổ toán học - tính toán chuyển thành bộ môn Tin học. Bộ môn được trang bị hệ thống máy tính hiện đại và có chức năng đảm bảo việc dạy tin học và hướng dẫn thực hành cho sinh viên các khoa trong toàn trường và thực hiện nghiên cứu khoa học. Ngoài giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bộ môn Tin học còn phục vụ công tác quản lý của trường như tự động hóa các công tác làm lương, học phần, tuyển sinh.
 
Từ năm học 2002- 2003, tổ bộ môn Tin học tách ra khỏi Khoa, trở thành khoa Công nghệ thông tin.
Từ năm học 2005 - 2006, Khối PT chuyên Toán - Tin tách ra khỏi Khoa, trở thành Khối PT chuyên, trực thuộc Trường.

Hiện nay đội ngũ cán bộ gồm 62 người, trong đó có : 3 TSKH và 25 TS, 2 GS và 7 PGS, 33 Ths, 1 cử nhân, 15 CB làm NCS trong nước. Thường xuyên làm việc tại Khoa là 46 CB, có 15 CB làm việc ở nước ngoài ( 1 chuyên gia, 11 NCS, 3 công tác trên 9 tháng), 18 CB hợp đồng. 
 
Về đào tạo cho đến nay Khoa toán đã đào tạo được 54 khóa chính quy; 16 khóa sau Đại học; 9 khóa nghiên cứu sinh trong đó có 36 người bảo vệ thành công và 2 người bảo vệ Tiến sĩ khoa học.


Cán bộ học sinh, sinh viên của khoa đã tham gia nhiều kỳ thi Ôlimpic Toán - Tin quốc tế và các trường trong nước, đạt được 112 giải từ giải nhất đến giải khuyến khích.


Cán bộ giảng dạy của khoa đã tham gia và chủ trì nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ ngành, cấp trường. Nhiều đề tài được ứng dụng phục vụ sản xuất, giáo dục đạt hiệu quả cao. Khoa Toán là một trong những khoa của trường có những nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước.


Do những thành tích trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Khoa Toán -Tin đã đạt được nhiều danh hiệu cao quý. Năm 1968 và năm 1999. Khoa đạt tập thể LĐXHCN: năm 1996, Khoa được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Nhiều tổ bộ môn của Khoa trong nhiều năm liền đạt danh hiệu tổ LĐXHCN. Huân chương lao động hạng Ba. Bằng khen của Thủ tướng chính phủ, Bằng khen của bộ trưởng. Nhiều cá nhân trong Khoa được tặng thưởng Huân chương lao động, Huy chương vì sự nghiệp giáo dục. Bằng khen của Thủ tướng chính phủ, Bằng khen của Bộ giáo dục, nhiều cán bộ giảng dạy được phong tặng là Nhà giáo ưu tú.

 
   
Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Địa chỉ: 136 đường Xuân Thuỷ, Quận Cầu Giấy, Hà Nội